Cái hay của trà Việt là được biết đến tạo ra nhiều loại trà, vừa hợp về tính cách, hương vị thưởng ngoại lại vừa hợp với “túi tiền” của mỗi giới và đảm bảo ai cũng được thưởng trà.
Giới quý tộc dùng trà Mạn, mạn sen, trà Thủy tiên, trà Lan, hay các loại trà nhập khẩu khác.
Về nguyên tắc, các loại trà được chế biến từ cùng một loại nguyên liệu, chúng trở thành các loại trà khác nhau phụ thuộc vào khâu chế biến. Về căn bản có hai loại trà: trà xanh là loại không cho lên men và trà đen là loại cho lên men hoàn toàn. Trà vàng, trà Ô Long được lên men từ 15%-70%.
Trà Xanh: Trà xanh cho nước trong xanh, hương dịu thơm tự nhiên và có vị ngọt hậu. Trà xanh xét về bản chất gần với chè tươi nhất kể cả từ hương vị đến sắc nước. Trên thị trường Trà Việt có rất nhiều thương hiệu trà xanh, song nổi tiếng và phổ biến nhất vẫn là trà Thái Nguyên và đại diện điển hình là danh trà Tân Cương.
Trà xanh chia làm nhiều loại dựa theo cách chế biến: trà xanh sao suốt, trà xanh sấy khô bằng hơi nóng, trà xanh phơi nắng, trà xanh hấp, sấy bằng hơi nước hoặc chần nước sôi.
Trà trắng – Bạch trà: còn có tên là Bạch hào là loạit trà rất quý và được đại đa số nhiều người ưa chuộng. Loại trà này từng được Hải Thượng Lãn Ông nhắc tới trong tác phẩm Thượng kinh ký sự và Đỗ Trọng Huề viết trong cuốn Hương Trà. Nguyên liệu để làm Bạch Trà được kén chọn rất kỹ lưỡng, chỉ dùng các loại búp, lá còn non bề mặt lóng lánh những lông trắng trên búp trà (chỉ hái 1 tôm, hoặc 1 tôm 1 lá). Đây là loại trà xanh quý, sản phẩm chế biến thủ công. Búp non trà được hái, đem phơi nắng, rồi hong trong bóng râm; quá trình chế biến này khác với trà xanh là không phơi héo, mà chỉ sao và lăn. Chính điều đó đã làm cho Bạch Trà còn giữ gần như nguyên vẹn tính chất của lá trà tươi. Để có Bạch Trà, búp chỉ được hái từ khoảng giữa tháng ba đến giữa tháng tư khi búp trà chưa kịp nở và không được hái vào ngày mưa hoặc có sương giá.
Trà Mốc cau Tân Cương thượng hạng, Bạch mao ở Bảo Lộc, Trà Shan Tây Bắc đều thuộc loại này.
Trà vàng Hà Giang: thường được gọi là trà Mạn. Đây là một trong những loại trà Việt có lịch sử lâu đời nhất. Xuất phát từ vùng Tây Bắc Việt Nam , chè Mạn đã ăn sâu vào trong tiềm thức người Việt qua nhiều thế hệ. Chè Mạn được hiểu theo hai cách: chè Mạn Hảo hay chè Mạn Ngược. Trà vàng Hà Giang được chế biến từ búp trà Shan non 1 tôm 2 lá, chất lượng tuyệt hảo. Tôm và lá non thứ nhất có lông tuyết trắng tạo nên hương vị dịu mát, sắc vàng ửng đỏ, ít chát được nhiều người ưa chuộng.
Trà Vàng – trà vàng Ô Long: Trà vàng có 3 loại: Ô Long hương ngát; Ô Long hổ phách; Ô Long màu sampanh.
Dòng trà vàng trong thời gian chiến tranh từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 đã khiến cho trà Ô Long biến mất khỏi Việt Nam. Phải chờ đến thập niên 90 thì trà Ô Long mới có cơ hội xuất hiện và nó đã nhanh chóng lan tỏa ra nhiều vùng ở Việt Nam .
Trà Ô Long cần pha với nước có nhiệt độ cao và có thể pha được 4 – 5 nước. Khi lá trà ngâm quá lâu trong nước sẽ chuyển sang màu đỏ bầm, giảm hương và chuyển sang vị hơi chát. Xác trà giữ được hương vị trong khoảng 7 giờ với điều kiện chắt thật kiệt nước.
tra thiet quam an
Trà vàng Thiết Quan Âm: là loại trà Ô Long được người Việt ưa chuộng từ thời phong kiến. Chính Thái là nhà sản xuất chế biến trà Thiết Quan Âm đầu tiên của Việt Nam . Thiết Quan Âm Chính Thái có hương vị rất đặc biệt, được nhiều người đánh giá xứng đáng là kỳ phùng địch thủ với trà Thiết Quan Âm. Tương truyền vào đời vua Can Long (1736-1796), Ngụy Âm rất sùng kính đạo Phật, nên được Phật Bà báo mộng chỉ cho cây trà trên núi. Ông đánh cả cây đem vê trồng ở vườn nhà. Năm năm sau, cây trà cho thu hoạch lứa trà đầu, ông thu hái chế biến ra một thứ trà có hương vị lạ ngon tuyệt vời. Sau chế biến, cánh trà có màu đen như sắt, sợi trà cong xoắn, sắc nước màu xanh lục, ửng sắc vàng, hương vị thơm lạ hơn hẳn các thứ trà khác. Nhớ công ơn Phật Bà đã chỉ cho giống trà quý, lại thấy sắc đen nhánh của nó bèn đặt tên là trà Thiết Quan Âm. Từ đó nó trở thành một danh trà nổi tiếng và được người Việt rất ưa chuộng.
Trà Đen: Búp trà, hoặc lá trà được để lên men kỹ từ trên 70%-100%. Nước trà pha có sắc đỏ. Đây là thứ trà dân Âu, Mỹ thường hay uống và rất ưa chuộng. Nó còn có tên khác là hồng trà rất phổ biến ở Trung Quốc. Chính vì vậy trước đây trà đen chiếm tới 80-90% thị trường trà thế giới. Hiện nay ở Việt Nam , trà đen khá phổ biến trong giới trẻ với các loại trà Lipton hay Dimah.
Tây Sơn Trà: là loại trà đen, gọi là trà Mỏ Quạ được quân Tây Sơn sử dụng rộng rãi vào cuối thế kỷ 18. Trà đen được pha thêm với gừng để phòng cách bệnh tật và mỗi người lính Tây Sơn đều uống hàng ngày. Nước trà Tây Sơn có màu đỏ hổ phách rất đẹp và rất được nước, vị thơm ngát tự nhiên uống vào thấy rất sảng khoái.
Trà ướp hương: Có nhiều loại trà vị rất đậm đà quyến rũ nhưng ít hương. Ví như trà Shan Tuyết tuyệt ngon ở vị song hương không mấy đặc sắc vì vậy người xưa đã lấy mùi hương hoa sen ướp cho nó và loại danh trà Mẹn Sen đã để lại tiếng thơm muôn đời.
Kỹ thuật ướp hương trà Việt rất tinh tế và phân chia rạch ròi về cách chọn lựa hương hoa ướp trà: hoa dương tính cho chính hương và hoa âm tính cho âm hương. Theo quan niệm người xưa, cổ nhân xếp các loại hoa nở vào ban ngày giữa thanh thiên bạch nhật thuộc loài hoa dương tính cho chính hương. Còn những loại nở ban đêm, mặc dù cho hương rất thơm, nét đẹp thường rất quyến rũ như: hoa quỳnh, hoa mộc v.v… song chúng thuộc loài hoa âm tính chỉ để chiêm ngưỡng chứ không dùng để ướp trà.
Nghệ thuật ướp trà hương rất đa dạng và đều là những bí kíp gia truyền. Chính vì lẽ đó mà trà ướp hương đã thực sự trở thành đặc sản Trà Việt đã làm say mê bao người.
Ngoài ra trong dân gian vẫn có cách trà ướp hương mộc mạc nhưng không kém hiệu quả: ướp thẳng vào hoa tươi. Tuy nhiên với cách này ta chỉ có thể thưởng thức theo các mùa hoa. Và khá phổ biến nhất là có trà hương sói, trà hoa Ngâu, trà hoa Cau, trà ướp hoa Ngọc Lan. Và đặc biệt nhất là Trà Sen. Trà Sen Hồ Tây, quả thật xứng danh với cái tên Thiên hạ đệ nhất trà Việt.
HOÀNG HẠNH NGUYÊN từ VIETNAMNAY.COM


